Mỗi vùng miền thì cách gọi vai vế của từng người trong họ hàng lại khác nhau, nhiều người chỉ cần nghe cách gọi là biết là họ ở miền nào, vai vế họ như thế nào. Nói chung cái vụ này nếu không biết sẽ khá rắc rối, để cho dễ mình chia sẻ về sơ đồ cách xưng hô trong họ hàng, những cách xưng hô chung và riêng của 3 miền.

Bạn đang xem: Cách xưng hô của người miền bắc

1. Điểm chung của 3 miền: – Anh của cha: Cả 3 miền gọi là Bác.– Vợ của anh cha: Cả 3 miền gọi là Bác.– Em trai của cha: Cả 3 miền gọi là Chú.– Vợ em trai của cha: Cả 3 miền gọi là Thím.– Em gái của mẹ: Cả 3 miền gọi là Dì.

– Em trai của mẹ: Cả 3 miền gọi là Cậu – người Trung còn gọi là Cụ.– Vợ em trai của mẹ: Cả 3 miền gọi là Mợ – người Trung còn gọi là Mự

2. Điểm riêng:– Chị của cha:+ Bắc gọi là Bác+ Trung, Nam gọi Cô (hoặc O)

– Chồng chị của cha:+ Bắc gọi là Bác+ Trung, Nam: Dượng (hoặc Trượng)

– Em gái của cha:+ Bắc, Nam gọi Cô+ Trung gọi O.

– Chồng em gái của cha:+ Bắc gọi Chú;+ Nam, Trung gọi Dượng (hay Trượng)

– Anh trai của mẹ:+ Bắc gọi Bác;+ Nam, Trung gọi Cậu – người Trung còn gọi Cụ

– Vợ anh trai của mẹ:+ Bắc gọi Bác;+ Trung, Nam gọi Mợ – người Trung còn gọi là Mự

– Chị của mẹ:+ Bắc gọi Bác;+ Trung, Nam gọi Dì.

– Chồng chị của mẹ:+ Bắc gọi Bác;+ Trung, Nam gọi Dượng (Trượng).

– Chồng em gái của mẹ:+ Bắc gọi Chú;+ Trung, Nam gọi Dượng (Trượng)

– Anh chị em họ: Cả 3 miền vẫn gọi là Anh, Chị, Em như anh chị em ruột. Nhưng cấp bậc anh chị họ có nơi dựa trên tuổi tác cá nhân, có nơi, đặc biệt ở miền Trung, thì tùy vị thế trên dưới của các bậc cha mẹ. Chẳng hạn người con của chú mình dầu lớn hơn mình cả 20 tuổi nhưng vẫn gọi mình bằng Anh và mình gọi lại bằng Chú (tức là Chú em).

– Bác, chú cô dì… gọi các con anh em mình bằng Cháu.Trong cách xưng hô với anh chị em của cha mẹ, người Bắc ưu tiên tuổi tác khi gọi anh, chị cha và mẹ là Bác, và cấp nhỏ là Chú Cậu Cô Mợ và chứ không dùng chữ “Dượng.”

Người Nam và Trung ưu tiên về nội ngoại, thân sơ.

Dì thì luôn bên ngoại dù tuổi cao hay thấp, Cô (hoặc O) thì luôn bên nội dù là chị hay em của cha.

Chú thì chỉ dùng cho em cha, thuộc bên nội thôi.

Người không thuộc dòng máu cha mẹ thi gọi là Dượng (hay Trượng), Mợ, Thím để phân biệt với Bác Trai, Chú, Cô, Cậu là anh em ruột thịt.

Chỉ có cách gọi Bác Gái (vợ anh trai của cha) là một ngoại lệ.

Để dễ nhớ bạn chỉ cần nhớ những từ xưng hô luôn đi cặp nhau: ” bác bác “, ” cô dượng “, ” dì dượng “, ” cậu mợ “, ” chú thím “.

Khác với ngôn ngữ của các nước Châu Mỹ, Châu Âu, cách xưng hô trong gia đình Việt phong phú và đa dạng hơn, với nhiều danh xưng theo vai vế, thứ bậc cũng như mối quan hệ trong mỗi gia đình. Trên thực tế, cách xưng hô trong gia đình bên ngoại và bên nội thậm chí cũng khác nhau.

*
Cách xưng hô trong gia đình và thứ bậc, vai vế trong các gia đình Việt

Nhân dịp năm mới đang đến, cùng Vua Nệm tìm hiểu cách xưng hô trong gia đình để có những câu chúc, những lời chào hỏi thật đúng và thật ý nghĩa nhé!


1. Thứ bậc trong gia đình Việt

Ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa, thứ bậc trong các gia đình Việt đã xuất hiện từ thời phong kiến và biến đổi theo xu hướng xã hội cho đến ngày nay. Nếu bản thân mỗi người được làm chuẩn bởi danh xưng “tôi” thì các thứ bậc trong gia đình Việt từ trên xuống dưới lần lượt như sau:

Kị: kị là đời thứ 5 trở đi tính từ đời của danh xưng “tôi”. Ở miền Bắc hoặc miền Trung, kị thể hiện là đời cha/mẹ của ông bà cố, hay còn được gọi là kị ông/ kị bà. Ở miền Nam, thay vì gọi bằng kị, cách xưng hô thông thường cho thế hệ này thường là sơ, tức là ông sơ, bà sơ.Cụ: là đời thứ 4 tính từ thế hệ của danh xưng “tôi”. Cụ được xem là đời cha mẹ của ông bà nội hoặc ngoại của chủ thể. Ở miền Bắc và miền Trung, thứ bậc này được xưng hô là cụ ông, cụ bà. Ở miền Nam, ba mẹ của ông bà thì được xưng bằng ông cố, bà cố. 
*
Các thứ bậc, vai vế trong gia đình ViệtÔng bà: là đời thứ ba tính từ danh xưng “tôi”. Ông bà là thế hệ cha mẹ của ba mẹ mình. Ông bà thường được gọi là ông bà nội hoặc ông bà ngoại, nhằm phân biệt giữa các đấng sinh thành của mẹ và của ba.Ba mẹ: là người sinh ra chủ thể “tôi”. Tùy theo từng vùng miền mà cách xưng hô cũng khác nhau. Ở một số vùng miền, “mẹ” còn được gọi là: u, má, bầm…Còn với từ “ba”, có nhiều cách xưng hô khác ở các vùng miền khác như: bố, cha, tía…

2. Cách xưng hô theo gia đình bên nội

Trong văn hóa và ngôn ngữ tiếng Việt, cách xưng hô trong gia đình được phân biệt theo họ hàng bên nội và bên ngoại. 

Dưới đây là cách xưng hô chuẩn theo gia đình bên nội:

Thứ bậc cao nhất trong gia đình bên nội thường là ông bà nội. Ông bà nội tức là ba mẹ của ba mình. Ngang hàng với ông bà nội là các anh/chị/em của ông bà. Các xưng hô với các vị anh/chị/em của ông bà nội thường là ông (với người nam) hoặc bà (với người nữ).

Với một số gia đình, thứ bậc cao nhất là ông cố nội hoặc bà cố nội, tức là ba mẹ của ông bà nội mình. 

*
Cách xưng hô theo gia đình bên nộiTiếp theo là đến thứ bậc ba của chủ thể “tôi”. Ngang hàng với ba là các anh/chị/em ruột của ba. Với anh/chị/em của ba, cách xưng hô có sự khác nhau rõ rệt theo từng vai vế, giới tính. Cụ thể như sau:

Anh trai của ba được gọi là bác hay bác trai. Vợ của bác trai cũng được gọi là bác, hay cụ thể hơn là bác gái.

Chị gái của ba được gọi là bác, và chồng của bác được gọi là bác trai trong cách xưng hô miền Bắc. Ở miền Nam và miền Trung, chị của ba thường được gọi là cô, và chồng của cô sẽ được gọi là dượng.

Em trai của ba được gọi là chú. Vợ của chú gọi là thím.

Em gái của ba được gọi là cô và chồng của cô gọi là chú. Cách xưng hô trên được sử dụng ở miền Bắc và miền Nam. Các khu vực tại miền Trung, cách xưng hô em gái của ba thường là o và chồng của o vẫn được gọi là dượng.

Tiếp theo là đến thứ bậc anh/chị/em họ của gia đình bên nội. Anh/chị/em/họ là con cái của anh/chị/em ruột của ba. Trong văn hóa Việt, cách xưng hô với anh/chị/em họ là theo vai vế mà không theo tuổi tác. 

Ví dụ, con gái của anh trai ba mặc dù nhỏ tuổi hơn chủ thể “tôi”, “tôi” vẫn phải xưng hô con gái của bác bằng chị vì vai vế lớn hơn. Hay con trai của em gái ba lớn tuổi hơn chủ thể “tôi”, “tôi” vẫn xưng hô là em trai vì vai vế của chủ thể “tôi” lớn hơn trong trường hợp này.

*
Cách xưng hô với họ hàng bên nội và họ hàng bên ngoại khác nhauThế hệ nhỏ nhất là con cái của anh/chị/em/họ bên dòng họ nội. Những đứa trẻ này sẽ xưng hô với chủ thể “tôi” như cách xưng hô với anh/chị/em của ba mẹ đã được đề cập ở trên.

3. Cách xưng hô theo gia đình bên ngoại 

Gia đình bên ngoại được hiểu là gia đình bên mẹ. Tương tự như bên nội, cách xưng hô theo họ hàng ngoại cũng có một số điểm chung nhất định và những điểm khác biệt cần lưu ý.

Dưới đây là cách xưng hô cụ thể theo gia đình bên ngoại:

Thứ bậc cao nhất trong nhà vẫn là ông bà ngoại. Ông bà ngoại là để chỉ các đấng sinh thành của mẹ. Anh/chị/em ruột của ông bà ngoại thường được gọi là ông (với người nam), hoặc bà (với người nữ). Cụ thể hơn thì anh/chị/em của ông bà ngoại có thể được gọi là bà dì, ông cậu, hoặc bà bác, ông bác.

Trong một số gia đình bên ngoại, thứ bậc cao nhất lại thuộc về ông bà cố ngoại, tức là ba mẹ của ông bà ngoại. 

Tiếp theo đó chính là thứ bậc ngang hàng với mẹ, tức là anh/chị/em ruột của mẹ. Cách xưng hô với anh/chị/em ruột của mẹ cụ thể như sau:

Anh trai của mẹ thường được gọi là bác và vợ của bác được gọi là bác gái trong cách xưng hô miền Bắc. Ở miền Trung, anh trai của mẹ gọi là cụ và vợ của cụ thì gọi là mự. Với cách xưng hô miền Nam, anh trai mẹ được gọi là cậu và vợ của cậu là mợ.

*
Cách xưng hô theo gia đình bên ngoại

Chị gái của mẹ cũng được gọi là bác đối với miền Bắc, và chồng của bác gọi là bác trai. Ở miền Trung và miền Nam, chị gái của mẹ được gọi là dì, và chồng của dì là dượng.

Em gái của mẹ được xưng hô là dù ở cả 3 miền. Tuy nhiên, chồng của dì lại có cách gọi khác nhau ở từng khu vực. Ở miền Bắc thì chồng của dì được gọi là chú. Còn ở hai miền còn lại, chồng của dì được gọi là dượng.

Em trai của mẹ được gọi là cậu ở miền Bắc và miền Nam, gọi là cụ ở miền Trung. Vợ của cậu được gọi là mợ. Vợ của cụ thì được gọi là mự.

Tiếp theo là thứ bậc ngang hàng với chủ thể “tôi”, tức là anh/chị/em/họ bên ngoại, là con của anh/chị/em ruột của mẹ. Tương tự như cách xưng hô bên nội, anh/chị/em họ được xưng hô “anh”, “chị”, hoặc “em” theo vai vế chứ không theo tuổi tác.

Vai vế ở đây được tính từ thời các anh/chị/em ruột của mẹ.

Thứ bậc cuối cùng chính là con của anh/chị/em/họ. Những đứa trẻ này chính là cháu của chủ thể “tôi” và sẽ xưng hô với chủ thể tôi bằng cách xưng hô với anh/chị/em của ba mẹ đã được mô tả ở trên.

Xem thêm: Lễ hội búp bê nhật bản - lễ hội búp bê hina matsuri

4. Kết luận

Trên đây là các mô tả cụ thể về cách xưng hô trong gia đình. Cách xưng hô trong gia đình Việt được đánh giá là phức tạp với những vai vế, thứ bậc và ngôi xưng hô khác nhau. Tuy nhiên, nếu sử dụng lâu dài, bạn sẽ quen và sẽ nhớ rất dễ dàng các cách xưng hô này. Cách xưng hô trong gia đình cần được hướng dẫn cho con trẻ từ nhỏ để bé có cách xưng hô đúng, tránh các lầm lẫn về sau.

Hy vọng Vua Nệm đã đem đến những thông tin bổ ích cho quý độc giả. Tiếp tục theo dõi Vua Nệm ở những bài viết hấp dẫn sắp tới nhé!